[Sóng - Xuân Quỳnh] Công Phá Đề Thi Văn Đại Học 2021 Đợt I (Tiếp Theo)

 Chào các bạn, chào các bạn độc giả thân yêu!


Đây là phần tiếp theo của blog về bài thi môn Ngữ Văn THPT Quốc Gia 2021 và bài thơ "Sóng" của anh Võ Lập Phúc. Ở phần trước mình đã nêu một số nhận xét của bản thân về bài làm của Phúc, thì ở phần này, mình muốn thử sức mình với một bài làm giả định cho đề thi phần làm văn này.

Mình là 2k1, đã từng tham dự kì thi THPT Quốc Gia năm 2019 cách đây 2 năm rồi, nên có thể kiến thức và kĩ năng lâu rồi không động lại sẽ có chút nhớ nhớ quên quên, mong được các bạn độc giả thông cảm và bỏ quá cho. Lưu ý, đây chỉ là 1 bài làm góp vui của mình, không mang tính chất thị phạm hay tạo khuôn mẫu cho bài làm đạt 10/10 điểm, vì vậy các bạn độc giả lưu ý đọc để giải trí, không có tình chất tham khảo. Nếu các bạn thấy bài của mình có điểm đáng học tập về cách dùng từ, cách hành văn hay phong cách lập luận, các bạn hoàn toàn có thể ghi chú, hoặc sử dụng cho những bài tập trong tương lai của bản thân. Mình rất hoan nghênh điều đó.

*** Do chế độ căn chỉnh của blog không có chức năng thụt lề mà vẫn giữ nguyên lề trái nên mình đành để chế độ căn lề giữa cho các bạn dễ nhìn. Mong các bạn thông cảm, mình sẽ cố gắng tìm cách để căn được lề trái mà vẫn lùi để giống trích thơ 5 chữ hơn. 

_____________________________________________________________________________________

Sau đây mình xin trích lại đề bài câu 2 phần II (Làm văn):

Câu 2 (5,0 điểm)

Trong bài thơ Sóng, nhà thơ Xuân Quỳnh viết:

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em 
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau 

Con sóng dưới lòng sâu 
Con sóng trên mặt nước 
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được 
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức 

(Ngữ Văn 12, Tập một, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2020, tr.155) 

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. 

_____________________________________________________________________________________

BÀI LÀM

Tình yêu, là danh từ để chỉ mối quan hệ tình cảm lãng mạn giữa hai người, hoặc nhiều người với nhau. Được đắm chìm trong miền hồn riêng biệt của thi ca nhạc hoạ, hai tiếng lòng nơi đầu môi ấy vút bay lên trở thành những thi phẩm bất hủ của nhân loại và thăng hoa trong bút lực ma mị của bao tác giả. Trong thế giới tình yêu của văn nghệ, độc giả bao đời trót say đắm những thi phẩm được hun đúc từ tiếng lòng thao thức, đập những nhịp thở của tình yêu đôi lứa. Thứ tình cảm bí ẩn đầy mãnh lực ấy đặc biệt được phóng hoạ tinh tế bằng ngòi bút của Xuân Quỳnh qua bài thơ "Sóng". Bài thơ với tựa đề chỉ có 1 chữ đơn lẻ, nhưng là kết tinh của cả một thế giới tình yêu bao la trong trái tim nữ sĩ. Trong đó, 3 khổ thơ sau đây được coi là áng thơ tình của muôn đời, góp phần làm nên "vẻ đẹp nữ tính" trong hồn thơ Xuân Quỳnh:

"Trước muôn trùng sóng bể
....
Cả trong mơ còn thức"

"Sóng' là tuyệt tác thi ca được chắp bút bởi nhà thơ Xuân Quỳnh (1942-1988). Xuân Quỳnh được người đời coi là may mắn khi được sinh ra trong một gia đình công chức ở La Khê, Hà Đông. Nhưng trái với vẻ ngoài êm đêm đó, thuở hàn vi của chị lại không mấy hạnh phúc như những đứa trẻ đương thời, khi mẹ thì mất sớm, bố thì liên tục công tác xa nhà, chị chỉ còn biết thui thủi bên bà nội để lấp đầy quãng tuổi thơ trống vắng của mình. Tuổi trẻ đầy ám ảnh đó, cùng với sự đổ vỡ của cuộc hôn nhân đầu tiên đã quá giang suốt cuộc đời thơ của chị, khiến cho mỗi lần chúng ta đọc các tác phẩm của "nữ hoàng thơ tình Việt Nam" đều nhận ra một mảnh hạnh phúc đời thường, một tiếng thơ bình dị khao khát yêu thương, che chở, nữ tính, cùng vẻ đẹp đôn hậu, chân thành nhưng luôn gắn với những dự cảm đổ vỡ, cảm thức lo âu chỉ như muốn trực chờ mà tuôn ào ào ra. Bài thơ "Sóng" được ra đời vào năm 1967, khi Xuân Quỳnh vô thức gặp phút tức cảnh sinh tình tại cửa biển Diêm Điền (Thái Bình) trong chuyến đi thực tế của mình. "Bức hoạ yêu thương" này sau đó được đưa vào tập "Hoa dọc chiến hào" (1968) và mau chóng trở thành hiện tượng trong giới mộ điệu thời đó. Mạch cảm xúc của bài thơ được nương theo thể thơ 5 chữ mà giãi bày tâm tư, mạch nguồn cảm xúc ấy xuất phát từ hình tượng con "sóng" ngoài khơi, sau đó soi chiếu vào hình tượng trữ tình "em" để tìm ra những điểm hoà hợp trong nhịp vận động. Sau cùng, từ sự tương đồng ấy, tác giả đúc rút gieo vào lòng người đọc sự đồng cảm với trái tim, nhịp đập giấc mơ của người con gái khi yêu. Những khổ thơ được trích ở trên là cực trị của miền biến thiên nỗi nhớ thăm thẳm và khát khao truy nguyên bản chất của tình yêu vẫn luôn trăn trở nơi đáy lòng người phụ nữ.


Suốt bao thập kỉ trôi qua, đại dương sâu thẳm luôn khắc khoải trong tâm niệm mỗi người như một địa hạt bí ẩn của vũ trụ, là nơi giao thoa giữa những hiểm nguy và những khát khao chinh phục. Hình ảnh đại dương xuất hiện trong bao câu chuyện cổ tích với những ước mơ nhỏ bé được gửi gắm, rồi nó đi vào điện ảnh như một phép ẩn dụ cho sự biền biệt khơi xa của biệt li muôn trùng. Trải qua bao thăng trầm trung đại, đứng trước thiên nhiên, biển cả, con người bỗng trở nên nhỏ bé và đơn côi. Đi vào thơ Xuân Quỳnh, sự vật hiển hiện thanh bình, nhưng đầy những biến động thăm thẳm ấy trở thành nét thoáng gợi cho tình yêu của đôi lứa, của sự luyến lưu uyên ương và cất lên tiếng hát của khúc mạch xúc cảm sâu lắng:

"Trước muôn trùng sóng bể 
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?"

Không gian ngoại cảnh của cửa biển Diêm Điền đã gieo cấy một hạt mầm trong lòng nỗi khắc khoải khôn nguôi của nhân vật "em". Bằng một phép gợi tả thi vị, "muôn trùng" con sóng như nghe theo nhịp vỗ đập trong lồng ngực con người để phả vào trong nghĩ suy những nét thoáng gợn mênh mang. Ở trong chiều không gian của khổ thơ này, nhân vật "em" và "sóng bể" được tách chiết ra chứ không hoàn toàn đồng nhất. Bởi lẽ, phải luôn có một khoảng cách nhất định giữa hai nhân vật chính này, thì độc giả mới có thể nhìn thấu sự tương quan và song hành giữa chuyển động của đối tượng: "sóng" vỗ bờ" còn "em" thì đắm chìm trong "nghĩ" suy. Câu thơ đầu tiên "trước muôn trùng sóng bể" xé toạc không gian vô định trong tâm tưởng của độc giả từ 2 khổ thơ đầu, đổ 1 lớp sơn xanh biếc tầng tầng lớp lớp lên nền của chiều không gian tưởng tượng. Đó là lớp nền xanh thanh tịnh của nền trời phản chiếu nét u hoài của đại dương, điểm xuyết trên ấy là những bọt nước lấp lánh vỗ tràn vào bờ của ngàn con sóng. Nổi bật trên bức hoạ đại dương ấy là hình ảnh một người con gái e lệ, đứng nép mình vào bờ cát với đôi mắt thoáng gợn chút xa xăm:

"Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn"

Người phụ nữ ấy đang suy tư về những gì, khao khát điều gì? Có lẽ sẽ có những điều chúng ta không thể hiểu được trong giây phút này chỉ qua những vần thơ. Nhưng có một điều chúng ta có thể đoán được, đó là phía sau tâm trí đang không ngừng đảo điên đó là hình bóng của người thương. Hai câu thơ với lối viết song hành, kết hợp với phép điệp từ "em nghĩ về" như mở ra hai chuyển động sóng đôi đồng thời va đập. Ở phía ngoài kia, từng ngọn sóng nối đuôi nhau, vỗ vào bờ; còn ở trong em, dòng suy nghĩ cuồn cuộn gối lên nhau bật tung cánh cửa giam cầm thứ được gọi là nỗi nhớ "anh". Quả thực, "nghĩ" là một trạng thái thuộc về cấp độ nhận thức lý tính của con người. Từ ngày xửa ngày xưa, loài người chúng ta được hình thành với đặc điểm bộ não phát triển vượt bậc, kèm theo đó là tư duy được nâng lên một tầm cao mới so với các loài động vật khác. Với đặc điểm sinh học đó, loài người dùng bộ não để suy "nghĩ" phương hướng giải quyết những vấn đề mới, xây dựng một xã hội dần tân tiến và một nền văn minh hiện đại. Tuy nhiên, khác với những suy "nghĩ" của trốn phàm tục thường nhật, ở đây Xuân Quỳnh thổi vào lòng người đọc một ý "nghĩ" đậm đặc cảm xúc hơn là nồng độ lý trí. "Nghĩ" là bởi vì nhớ, nhớ bởi vì yêu, yêu bởi vì xao xuyến. Dường như khi yêu nhau, chúng ta thường có những phút giây lơ đễnh, những phút thơ thẩn đến ngô nghê, mà đó là lúc ta nghĩ về người ấy, một người đặc biệt và ý trung nhân của chúng ta. Nỗi nhớ ấy trải rộng như đại dương, dạt dào như sóng vỗ, ở đó, tác giả nghĩ về "anh, em". Dấu phẩy nằm chắn giữa khiến nhịp thơ bị gãy và người đọc như choàng tỉnh giữa giấc mộng ngọt ngào. Dường như đây là một dụng ý nghệ thuật, thay vì nói "anh và em" hay "chúng ta" như bình thường để ám chỉ một cặp đôi, tác giả lại dùng dấu phẩy để chắn giữa tạo thành hai cá thể thể riêng biệt. Nhờ việc bẻ gãy nhịp thơ đấy, mà ta cảm tưởng như sự "nghĩ" này có sự can dự tỉnh táo của lý trí chứ không đơn thuần là một nỗi suy nghĩ vu vơ chợt đến chợt đi. Ẩn sâu trong tầng tầng lớp lớp ngôn từ, độc giả tinh ý có thể nhận ra đây dường như là một phút thức tỉnh giữa huyễn hoặc tình yêu đời thường của Xuân Quỳnh. Khi nói đến tình yêu, Xuân Quỳnh vẫn dường như ám ảnh bởi một nỗi chia lìa không hẹn ước, cũng bởi quá khứ đã in hằn lên trái tim của cô gái ấy những vết sẹo mà đời này kiếp này, khó ai có thể xoá nhoà. Bởi lẽ đó, tuy không mang hàm ý về sự chia cắt, nhưng ta cũng chóng nhận ra nỗi lo lắng nội tâm thoáng gợn của người phụ nữ đa sầu đa cảm này. 


Dẫu vậy, nếu hiểu theo hướng tươi sáng hơn, đây có thể là một lời nhắn gửi đáng yêu mà Xuân Quỳnh muốn nhắn nhủ đến người trong mộng của mình, rằng, yêu không phải là một sự chiếm hữu, cũng không phải là một sự thuần hoá nửa kia, mà yêu là chấp nhận sự khác biệt của nhau, giống như "anh" và "em" tuy luôn có khoảng cách, nhưng nếu chúng ta biết cùng nhau vượt qua sóng gió, nắm tay nhau và bỏ qua cho những thiếu sót của nhau, thì khoảng cách của dấu phẩy đáng ghét kia cũng sẽ hoá hư không trong chốc lát thôi. Sau những suy nghĩ miên man về tình yêu, "nữ hoàng thơ tình" đưa độc giả đến với cảm giác lửng lơ trong tình yêu với một câu thơ cuối khổ đầy sắc thái nghi vấn: 

"Từ nơi nào sóng lên?" 

Đây là một câu hỏi tu từ để bộc lộ cảm xúc, nhưng cũng là một câu hỏi được đặt ra để thách thức hòng tìm kiếm câu trả lời. Trước những sự vật tự nhiên trong thiên hà xa mãi, ai trong chúng ta cũng từng đặt ra những 10 vạn câu hỏi vì sao như "Vì sao nước biển lại mặn?", "Vì sao mưa lại rơi". Ở đây, chúng ta cũng bắt gặp một hình ảnh tương tự của một đứa trẻ khi yêu thắc mắc về nguồn gốc của nơi "sóng lên". Tìm hiểu về nguồn cội của sóng, tức là tìm về mảnh đất khởi sinh nơi tình yêu bén rễ. Câu thơ trên đóng vai trò như một nhạc của phần lời nhạc kết thúc, chuẩn bị cho một khoảng lặng để điệp khúc vang lên trả lời cho chuỗi vấn đề được đặt ra:

"Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau" 

Khổ thơ trên như là lời tự vấn, cũng là tự đáp của người con gái ngây thơ trong tình yêu muốn tìm về nơi khởi sinh của tình mình. Có lẽ ai đó khi yêu đều đặt cho mình những trăn trở, những câu hỏi vì sao về tình yêu của mình. Trong thơ Xuân Quỳnh, khát vọng ấy được nâng lên thành khát vọng truy nguyên xuất phát điểm của tình yêu. Cụ thể, khát vọng truy gốc tình yêu được mã hoá thành khát vọng đuổi theo hành trình kiến tạo nên "sóng". Theo dòng vận động của nghĩ suy, "sóng" được truy vấn từ sự hiện diện của "gió". Tuy nhiên, câu trả lời này vẫn chưa đủ để làm thoả mãn sự ngây thơ có phần trẻ con trong tâm hồn một thiếu nữ đang yêu, câu hỏi lại tiếp tục được gợi ra nhằm truy vấn nơi bắt đầu của "gió". Cấu trúc và cụm từ "bắt đầu từ" được lặp lại liên tục ở cả hai câu thơ liên tiếp tạo ra thể đối xứng biền ngẫu, đồng thời hoạ ra giữa đại dương một con thuyền đột nhiên lao vụt xé toạc mặt biển im lìm với những bọt nước trắng xoá. Đó là con thuyền của suy tư, của khát khao truy vấn đến tận cùng căn nguyên của tình yêu. Tuy nhiên, lao ra đến giữa mặt biển, con thuyền ấy như lạc lối giữa muôn vàn những câu hỏi tại sao, giữa muôn vàn những bí mật ẩn sâu bên dưới bề mặt chuyển lưu của vũ trụ mà hệ quy chiếu tình yêu không thể vươn tới. Bởi lẽ đó, con tim đành bất lực thừa nhận: "Em cũng không biết nữa", đây như lời thú thật đáng yêu của một dáng hình thiếu nữ với hai bím tóc lắc đầu nguây nguậy làm nũng khi rơi vào khu vườn bí mật của tình yêu, đồng thời cũng là lời khẳng định của lý trí: không tìm được nơi "bắt đầu" của "sóng" tức là không biết được nơi tình yêu bắt đầu.

Thực tế, nếu giải thích dựa vào kiến thức địa lý và hải văn học, ai đó có thể ngay lập tức trả lời câu hỏi "gió bắt đầu từ đâu?". Tuy nhiên, đối với Xuân Quỳnh, lời trả lời đó cũng có thể không phải là điều chị cần. Bởi lẽ trong thế giới và những cung bậc của tình yêu, trái tim có những lý lẽ của riêng nó mà lý trí chẳng tài nào hiểu được, cũng trong thế giới ấy, sự thật và những điều đúng đắn đôi khi cũng không còn nghĩa lý gì so với trái tim luôn một mực nghĩ về tình yêu với những niềm tin của nó. Sự thú nhận "không biết" của tình yêu trong thơ của tác giả cũng đồng lòng đập cùng nhịp với tiếng lòng của các nhà thơ cùng thời. Ngòi bút Xuân Diệu cũng đã từng phải bất lực trước sự bí ẩn về nơi khởi nguồn của tình yêu mà cảm thán rằng: 

"Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu" 

Có lẽ, tìm về nơi khai sinh ra hai chữ "tình yêu" là khát vọng muôn thưở của con người, nhưng dường như trong hiện thực rõ ràng của cuộc sống, hay là chốn bằng an của thi ca văn vật, mọi thứ vẫn dường như không thể. Nhân vật tình yêu là thứ gì đó mà trong ngôi báu thơ ca, các thi nhân vẫn chưa có cơ hội diện kiến, Xuân Quỳnh cũng đành bất lực mà thốt nên rằng: 

"Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau"

Đó cũng chính là hai câu thơ khép lại khổ thơ với một giọng thơ đầy tính nghi vấn. Điều đặc biệt trong câu thơ cuối khổ nằm ở chính việc tác giả đặt ra một câu hỏi lơ lửng trong tâm trí độc giả như vây. Tác giả đã đặt một cụm từ nghi vấn "khi nào" ở đầu câu thơ như để ướm hỏi một điều gì đó. Tuy nhiên kết thúc câu thơ không phải là một dấu chấm hỏi (?) để tạo thành một câu hỏi tu từ, mà dường như tác giả chỉ muốn kết thúc với một giọng điệu tự sự tràn đầy nỗi niềm. Liệu có phải, việc kết thúc khổ thơ bằng cách lửng lơ như vậy, không phải là vì tác giả quên mà là bởi câu thơ không nhằm mục đích hỏi, hay để truy tìm thêm về nguồn gốc của tình yêu nữa. Câu thơ có lẽ chỉ đơn giản nhằm tái khẳng định sự vô nghĩa trong việc kiếm tìm cái gốc rễ của tình yêu. Dường như đó là khoảnh khắc trưởng thành của một người thiếu nữ sau những cảm niệm trong tâm thức về tình yêu của đời mình. Chất ngây thơ ngày nào giờ đã có sự trưởng thành, trở thành một suy nghĩ có chút "đàn bà" hơn. Tâm thức ấy nhắc nhở người phụ nữ rằng, đừng cố gắng đến mức tàn tạ để tìm kiếm một điều không có nơi khởi nguyên, bởi lẽ tình yêu không có nơi bắt đầu, nhưng lại có nơi kết thúc, đó có thể là sự chia ly, cũng có thể là khoảnh khắc nơi tâm hồn không còn hoà chung một nhịp, con tim không còn cùng cất lên một điệu. Đó là khoảnh khắc tàn lụi của một tình yêu đẹp. Tựa như con sóng ngoài kia, sóng đến từ đâu chẳng ai hay, nhưng rồi cũng sẽ vỗ vào bờ, rồi vỡ tan trong chiều vàng mà kết thúc vòng đời của nó. Trong thâm cùng nơi tâm khảm Xuân Quỳnh, chị không hề mong tình yêu của mình kết thúc, những biến cố tình trường có lẽ đã là quá đủ cho con tim mong manh của chị. Câu thơ chị viết nên như là lời nhắc nhở bản thân hãy tự vun vén cho tình yêu hiện tại và sống thật tốt cho tương lai, chứ đừng chỉ biết dằn vặt với quá khứ và đặt những câu hỏi tại sao vốn không thể trả lời. 


Những hoài niệm về cảm xúc trong tình yêu cứ chảy trôi theo dòng hải lưu của biển, kéo dài vô tận vào tiềm thức và ào ạt đổ vào tứ thơ những lời hay ý đẹp về nỗi nhớ của đôi lứa trong khoảnh khắc ngọt ngào của tình yêu: 

"Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức" 

Sợi chỉ đỏ tạo nên mạch thi hứng cho bài thơ chính là khoảnh khắc đồng điệu trong phút giây tương phùng của "sóng" và "em". Ở khổ thơ trên, phút trùng phùng ấy đã cất lên khúc tình ca về nỗi nhớ. Hai chủ thể "sóng" và "em" lúc thì bịn rịn cuốn quyện lấy nhau để tạo nên sự cộng hưởng vang dội của nỗi nhớ, có đôi lúc lại tồn tại độc lập như hai chủ thể riêng biệt để soi rọi với nhau tạo nên thể đa nhân cách của một nhân vật cùng tìm lại những mảnh thể tương đồng trong hồn mình. Ở trong tứ thơ trên, độc giả lại một lần nữa nhận ra sự trở lại ào ạt vỗ bờ của những "con sóng". Khi thì "con sóng" ấy hiện hữu trên bề "mặt nước" của đại dương, khi lại thì thầm như tiếng tù và âm ỉ dưới tầng bể "lòng sâu" của mặt biển. Dựa theo thể song hành của hai hình ảnh "sóng" và "em", chúng ta có thể ngầm hiểu, những nơi sóng hiện diện cũng chính là những nơi nỗi nhớ ngự trị, đó chính là nơi bề "mặt" của cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố, hoặc cũng có thể đó là nỗi nhớ khuôn nguôi nằm lặn sâu ở chốn thịnh suy của địa hạt tâm hồn. Hai câu thơ tiếp tục sử dụng hiệu quả phép điệp ngữ tạo ra thể sóng đôi, kết hợp nhịp nhàng cùng thể thơ 5 chữ khiến hai câu thơ như những con sóng trải dài miên man nối tiếp nhau trên mặt biển. Hiển nhiên, ta hiểu ra một điều rằng, dẫu cho "con sóng" kia có ở đâu, thì đó vẫn là dòng vận chuyển liên tục của mặt biển, biển không có sóng, biển không còn là biển; "lòng em" không còn "nhớ đến anh", em cũng không còn là chính mình. Theo thể thức tương đồng, nỗi nhớ chính là tôn chỉ hoạt động của lòng em, giống như những "con sóng" kia vẫn ngày đêm "thao thức" một nỗi "nhớ bờ" dẫu cho mưa nắng thay đổi, bốn mùa luân hồi.  "Nỗi nhớ" ấy qua bàn tay của Xuân Quỳnh trở thành những cánh chim hải âu, vụt ngang qua bề mặt đại dương cảm xúc trong lòng độc giả: 

"Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được"

Những "con sóng" vô tri qua bút lực của tác giả đã trở thành những vật thể có cảm xúc, cũng biết "nhớ bờ" như bao cặp trai tài gái đảm quấn quít bên nhau. Nếu chỉ tả thực, "con sóng" vỗ "bờ" thì câu thơ vẫn sẽ đủ nghĩa và đảm bảo tính sóng đôi của hình tượng "sóng" và "em". Tuy nhiên, câu thơ sẽ trở nên khô khan và thiếu chất thi sĩ, qua đây, ta dường như thấy được thêm một khía cạnh tinh tế, nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. Chị đã gắn cho câu thơ một nhãn quan của người đang yêu, rằng có lẽ khi yêu, con người ta thường trở nên đằm mình hơn và chúng ta sẽ thấy các đồ vật chung quanh cái nào cũng xứng đôi vừa lứa. Ở đây, "sóng" và "bờ" đã trở nên có đôi có cặp, vì thế chúng mới "nhớ" nhau. Phát hiện mới mẻ lý thú này khiến cho chính tác giả cũng cảm thấy bất ngờ, bởi vậy, từ cảm thán "Ôi" được ướm đặt ở ngay đầu câu thơ đã mang lại một nhịp điệu rất "sống" cho khổ. Con sóng đã luôn sống với sứ mệnh cao cả và nỗi nhớ khôn nguôi qua năm tháng của nó để "ngày đêm không ngủ" tìm đến bến "bờ" mà nó luôn kiếm tìm. Cũng tương tự, "em" luôn sống với con tim của mình, đó là "ngày đêm" tìm "anh" trong điên cuồng, dẫu cho có "không ngủ được", "em" vẫn sẽ không buông tay "anh" - chân ái của đời mình. Như đã từng được để cập rất nhiều trong bài, với phép tương quan giữa "sóng" và "em", nếu khổ thơ chỉ dừng lại tại đây chúng ta cũng đã đủ hiểu nội dung của cả khổ. Nhưng có lẽ, nỗi "nhớ" của "sóng" và của tình yêu có sức mạnh của riêng nó để phá tung tất cả những giới hạn hữu hình của thời-không và tự vươn đến những khoảng trời của riêng nó. Nên khổ thơ được kéo dài thêm với hai câu thơ cuối:

"Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức" 

2 câu thơ đã phá vỡ hình thức một khổ bốn câu trải dài từ đầu đến cuối bài thơ, tạo thành khổ thơ duy nhất với 6 dòng thơ thay vì 4 dòng. Đây chính là tiếng nói ngầm của nỗi nhớ và là sức mạnh nội sinh của cõi tiềm thức. Không còn mượn hình tượng "sóng" để gián tiếp nói về nỗi nhớ trong "em", hai câu thơ sử dụng phép tả thực để hoạ lên nỗi nhớ muôn màu của các cung bậc trong tình yêu. Tiếng "sóng" ở cửa biển Diêm Điền năm nào đã hô biến ra trong tay Xuân Quỳnh chiếc bút lông của một người hoạ sĩ, mà chị đã dùng nó để vẽ tình yêu bằng màu nỗi nhớ, hoạ chân tình bằng sắc ưu tư và phủ lên đó lớp kim tuyến lấp lánh những rung động của khu rừng ngôn từ. Chiếc lồng giam cầm nỗi nhớ đã bị phá tung bởi phép tả thực trong 2 câu thơ. Ở đây, độc giả chúng ta không còn bắt gặp cái nép mình làm duyên làm dáng đằng sau những con "sóng" của một người phụ nữ đang thao thức vì người tình trong mộng của mình, mà ở đây ta bắt gặp một nỗi nhớ có phần gì đó cháy bỏng, điên cuồng và có cả phần gì đó cá tính. Có lẽ, cái nét "nữ tính" trong thơ của Xuân Quỳnh nó không chỉ nằm ở bốn chữ "công, dung, ngôn, hạnh" hay những cái tiêu chuẩn thuỳ mị, nết na mà xã hội đã gán cho người phụ nữ suốt bao thập kỉ trung đại. Trong nét thơ Xuân Quỳnh, người đọc ta như lờ mờ nhìn thấy chút sự thấp thoáng của sự "nữ quyền" trong tình yêu và xã hội. Nếu như trong thi ca trung đại hay thậm chí là ở hiện đại, tình yêu của người phụ nữ luôn bị trói buộc trong những cái giới hạn nhỏ bé, đơn độc và đôi khi là cả sự cam chịu như trong bản dịch "Chinh phụ ngâm" của Đoàn Thị Điểm:

"Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

Buồn rầu nói chẳng nên lời 

Hoa đèn kia với bóng người khá thương"

Hay đôi khi, nỗi nhớ của người phụ nữ trong tình yêu còn đi vào ca dao với hình ảnh người phụ nữ mòn mỏi trông mong vào sự thuỷ chung của ý trung nhân thông qua hình ảnh "thuyền" và "bến":

"Thuyền về có nhớ bên chăng 

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền"

Hình ảnh người phụ nữ hiện lên trong thơ ca trung đại luôn gắn với những quan niệm phụ thuộc và "tam tòng, tứ đức" của xã hội cũ. Qua thơ Xuân Quỳnh, những nét ý nhị ấy vẫn được bảo tồn nguyên sơ, nhưng chị đã phát triển nó lên thành một tư tưởng có phần mới mẻ và táo bạo hơn. Từng câu thơ của chị như lời tuyên bố hùng hồn cho một nửa thế giới và cho cả phụ nữ Việt Nam, rằng phụ nữ ngày nay cũng có quyền chủ động trong tình yêu, cũng có quyền hi vọng cho hạnh phúc của cả nhân mình và hơn cả là có quyền lựa chọn cho mình những hạnh phúc nhỏ bé nhất mình hằng chôn giấu. Đó là lí do tại sao chị tả thực nỗi nhớ của mình: "Lòng em nhớ đến anh". Quả thực, vào thời điểm cách đây hơn 50 năm, liệu có mấy người phụ nữ dám nói vậy. Nỗi nhớ ấy không chỉ dừng lại ở những suy nghĩ thường ngày, trong những vu vơ của cuộc sống thường nhật, mà nó đi cả vào trong cõi mơ của tiềm thức:

"Cả trong mơ còn thức"

Giấc mơ là gì? Ý nghĩa của những giấc mơ là gì? Đó là những câu hỏi mà ngày nay, khoa học vẫn chưa thể nào tìm ra câu trả lời. Duy chỉ có một điều chúng ta biết, đó chính là giấc mơ chính là một thế giới thứ hai mà con người chúng ta tìm về an trú, ở đó, chúng ta sống đúng và thật nhất với con người mình, khi mà lý trí, rào cản đạo đức và cái phàm tục của cõi trần tạm ngủ yên để những mong muốn sâu cùng thâm tâm được dịp sổ lồng dạo chơi trong cõi mơ. Qua câu thơ của tác giả, chúng ta thấm thía rằng, nguyện ước sâu kín trong lòng người con gái khi yêu cũng chỉ là gửi ngàn thương nhớ về người mà mình thương. "Sóng" ngoài biển khơi kia, dù là ngày hay đêm thì vẫn luôn không ngừng vượt qua ngàn trùng hải lí để tìm về với bến "bờ" mà nó thương nhớ. "Sóng nhớ bờ" bất kể ngày đêm. Sự thật tự nhiên này được Xuân Quỳnh nâng lên thành nỗi nhớ của con người trong lúc yêu. Cái trở mình "thức" giấc khi "mơ" của chị ở đây không phải là một phép tu từ nói quá như chúng ta đoán định, mà nó là một phép tả thực để gột tả cái trăn trở luôn thường trực của người phụ nữ không màng thời gian. Phụ nữ luôn là những đoá hoa mang trong mình sự nhạy cảm và dễ tổn thương trong chuyện tình cảm. Có lẽ cũng vì vậy mà người ta thường hay gọi một nửa này của thế giới là "phái yếu" hay "phái đẹp". Cái nhẹ nhàng, đằm thắm đó của người con gái được Xuân Quỳnh thu gọn lại trong một chữ "nhớ". Liệu nỗi nhớ này có chỉ đơn giản là "nhớ" vì đang yêu. Hay phải chăng đó là ẩn dụ cho muôn vàn những câu hỏi đang chảy trôi trong tâm trí người con gái từng giờ từng phút, rằng liệu mình nhớ người ấy thì người ấy có đang nhớ mình không; liệu người ấy có đang thật lòng với mình không; hay người ấy có đang thân thiết với ai khác ngoài mình không. Những câu hỏi ấy khiến cho không gian của câu thơ đi sâu vào từng ngóc ngách của thứ tình yêu diệu kì này và chẳng có điểm dừng. Cái nỗi nhớ ấy nó không chỉ nhẹ nhàng và dịu êm, mà đôi khi dữ dội và văng vẳng một tiếng thét gào đầy hoang dại của sự bất lực trong xa cách không thể chạm đến những gì mình muốn. Ghép hoàn cảnh của câu thơ vào cuộc đời nữ thi sĩ - một người luôn mòn mỏi trông mong một hạnh phúc viên mãn cho mình, ta càng thêm thấu hiểu và trân quý khát vọng nhỏ bé ấy - thứ luôn đập từng hồi thê thiết trong trái tim chị. Khi yêu, con người ta có thể dễ dàng nguỵ tạo những lời nói, những hành động thân thiết để che đậy đi sự đổi thay trong lòng mình. Nhưng chỉ có nỗi nhớ khi chia xa mới là thứ bảo chứng duy nhất cho sự vẹn toàn của hai mảnh trái tim. Và rồi cứ thế, khổ thơ khép lại bằng nỗi nhớ chơi vơi của Xuân Quỳnh giữa mịt mùng biển khơi sóng vỗ. Chị đã khắc hoạ lên bờ cát tất thảy những gì nồng nhiệt, chân thành và thổn thức nhất, đó sẽ là lời thề nguyện về một tình yêu trinh nguyên mà có lẽ sẽ không thể có một thế lực nào có đủ sức công phá hòng phá tan bức tường kiên cố mà chị đã cất công gây dựng.


Nếu chúng ta coi nội dung chính của tác phẩm là một ngôi nhà, thì nghệ thuật chính là lớp gạch men và nước sơn trang trí khiến cho ngôi nhà trở nên thu hút và quyến luyến thêm bước chân của người du khách đến thăm. Tác phẩm "Sóng" chính là một ngôi nhà có được cả hai đặc điểm đó. Bài thơ sử dụng phép sóng đôi giữa hai chủ thể trữ tình "sóng" và "em" để tạo thành một vòng cương toả những sức mạnh ma thuật của tình yêu. Sức mạnh ấy được cổng hưởng vang xa nhờ thể thơ 5 chữ giàu nhạc điệu, đan cài những phép tu từ nghệ thuật như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ nhiều tầng nghĩa nhằm giúp cho khúc điệu tình yêu trải rộng mênh mang như mặt biển khơi không đứt quãng. Trên mặt biển khơi đó, độc giả như những du khách trên một chuyến du thuyền của hướng dẫn viên, cây viết Xuân Quỳnh đi phiêu bạt khắp các ngõ cùng hẻm cụt của đại dương nhưng không hề toát lên cảm giác u tịch, rùng rợn, mà thay vào đó, bạn đọc như được chiêm ngưỡng bức hoạ mĩ lệ của tạo hoá hiển hiện trước mắt bằng bút lực nồng hậu nhưng rất dân dã của bà hoàng thơ tình Việt Nam.


"Sóng' là một mốc son trong sự nghiệp thơ Xuân Quỳnh, đánh dấu bước chuyển mình trong quá trình trưởng thành của một nhà thơ trong làng thơ Việt. Góp phần đáng kể vào sự thành công ấy, ta không thể bỏ qua "vẻ đẹp nữ tính" trong thơ của chị, nó là thứ hương vị chính đã làm món ăn của chị trở nên độc đáo so với vô vàn những món ăn được ra lò. "Vẻ đẹp nữ tính" trong thơ Xuân Quỳnh có chất riêng và vẫn được nhiều người nhắc đến là bởi nó là sự hoà quyện khéo léo giữa nét truyền thống và hiện đại. Truyền thống là ở chỗ, tình yêu trong "Sóng" luôn mang nét dịu dàng, thanh nhã, thiết tha, chứ không vồ vập, thô thiển và bất chấp, hơn nữa, tình yêu ấy luôn gắn với sự chung thuỷ và nhớ thương. Đó là vẻ đẹp muôn đời luôn khắc cốt ghi tâm trong trái tim người phụ nữ Á Đông. Nhưng, tình yêu ấy phản chiếu trong thơ chị không sao chép y nguyên những giá trị truyền thống đơn thuần hay bê vào những nét cổ hủ, lỗi thời và bó buộc người phụ nữ, mà trái lại, nó khéo léo tôn vinh và thể hiện tiếng nói nữ quyền cho nửa kia của thế giới. Chỉ đã khéo léo nêm nếm cho món ăn của mình gia vị đặc trưng đó bằng tất cả tấm lòng của mình, sự cảm thương cho những phận kiếp cô liêu và vun đắp cho họ một cái kết có hậu chứ không chỉ ích kỉ đoái hoài đến sự hiện diện của bản thân. Đó chính là tinh thần nhân văn, nhân đạo rất cao cả mà bài thơ của chị muốn gửi gắm. Quả thực, có lẽ chỉ có những tác phẩm mang vẻ đẹp hội tụ đủ chân-thiện-mĩ như vậy mới có đủ sức để trường tồn, không màng đến sự băng hoại của thời gian.


Không phải ngẫu nhiên hay do may mắn mà tác phẩm "Sóng" vẫn còn được bao thế hệ độc giả ngày nay truyền tay nhau và lưu giữ. Một tác phẩm chỉ có thể sống nếu như nội dung của nó vẫn trung chuyển được những hơi thể thế sự của thời đại và nội dung vẫn có ý nghĩa. Ở đây, "Sóng" đã làm được điều đó. yêu là chuyện của muôn đời, mãi cho hôm nay hay là mai sau, con người sẽ vẫn còn yêu nhau, có lẽ chỉ khi nào con người hết yêu nhau thì bài thơ của Xuân Quỳnh mới có thể đi vào lãng quên của độc giả. Bài thơ đã để lại cho thế hệ thanh niên trẻ những bài học giá trị về tình yêu. Khác với thời đại ngày nay, khi chúng ta có thể thoải mái hơn trong việc thể hiện tình cảm, bài thơ như là lời nhắn nhủ nhỏ bé của thế hệ đi trước cho những "ngực trẻ" ngày nay về những chân giá trị của tình cảm. Đó chính là, tình cảm dẫu có là gì thì cũng luôn phải xuất phát từ sự chân thành, từ sự ân cần lo lắng cho nửa kia của mình. Các bạn trẻ thời đại mới hãy đừng biến tình yêu - thứ tình cảm trong sáng trở thành vũng bùn chôn vùi đi thanh xuân của mình, cũng đừng chấp mê bất ngộ mà biến tình yêu trở thành một cây xương rồng khiến cả hai đều bị tổn thương mỗi khi nhắc đến. Đặt bài thơ vào trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đanh hoành hành từng thôn làng, ngõ xóm hiện nay, ta lại càng thấy bài thơ toả sáng những giá trị rất riêng. Hẳn chúng ta còn nhớ, bài thơ khi ra đời vào năm 1967 đã gây ra không biết bao tranh cãi trong công chúng thời đó, nhiều người cho rằng tác giả đã làm nhụt chí đại chúng bằng một thứ tình cảm sến súa trong khi cả nước đang gồng mình để chi viện cho miền Nam thân yêu chiến đấu kết thúc chiến tranh. Nhưng, nào phải vậy đâu, đứng vào hoàn cảnh như hiện nay, ta mới hiểu rằng, con người chúng ta là những tâm hồn có cảm xúc, chứ không phải cỗ máy để chỉ biết làm việc không ngơi nghỉ, chúng ta cần những "Sóng" để có thể ủi an cho cõi lòng tả tơi đã quá mệt mỏi vì chiến đấu. Trong trận chiến dịch bệnh lần này, bài thơ "Sóng" một lần nữa bung nở thành một đoá "hoa dọc chiến hào" để chúng ta nhìn ngắm vào đó, khơi gợi cho mình những ý niệm cao đẹp, tìm kiếm động lực cho bản thân và gắn kết cùng xã hội. Từ cơ sở đó, khi chúng ta có tinh thần kết nối, cuộc chiến đấu này nhất định sẽ thắng lợi. 


Tóm lại, thi phẩm "Sóng", đặc biệt là ba khổ thơ trên đã khắc hoạ những nét đẹp trong tình yêu, đặc biệt là từ góc nhìn của trái tim người phụ nữ. Điều ấy được thể hiện qua khát vọng đi truy tìm bản chất của tình yêu đôi lứa và những nỗi nhớ nhung dành cho nhau. Dự phần vào sự thành công trong việc thể hiện nội dung đó, ta không quên kể đến đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng đôi "sóng" và "em" cùng việc kết hợp các biện pháp tu từ. Đoạn thơ đã xuất sắc thể hiện "vẻ đẹp nữ tính" vừa mang nét truyền thống vừa mang nét hiện đại trong hồn thơ Xuân Quỳnh. 


HẾT


_____________________________________________________________________________________
❤️ ĐỪNG QUÊN KẾT NỐI VỚI MÌNH NHÉ:

_____________________________________________________________________________________

Comments

Popular posts from this blog

[Sóng - Xuân Quỳnh] Công Phá Đề Thi Văn Đại Học 2021 Đợt I